Danh mục
Trang chủ
Tin nổi bật
Lời giới thiệu
Văn
Thơ
Sự kiện
Nghiên cứu lý luận phê bình
Nhân vật
Giai thoại văn chương
 Tìm kiếm

Trong:

 Trưng cầu ý kiến
Bạn nghĩ sao về webiste này?
Thật tuyệt vời
Thật tiện lợi
Hay đấy
Bình thường
Ý kiến khác
Kết quả
 Tác giả tác phẩm
"XÓM TRĂM NĂM" MƠ VỀ NƠI XA THẲM  

"Xóm trăm năm" là tập thơ in chung của các tác giả: VŨ KHẮC TĨNH, NGUYỄN TẤN SĨ, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG, NGUYỄN ĐỨC DŨNG, NGUYỄN BÁ HÒA, BÌNH ĐỊA MỘC, PHẠM DƯƠNG NAM, TRẦN XUÂN AN: Những cây bút cùng thế hệ U50, cùng từng sinh sống, gắn bó với quê hương Tam Kỳ - vùng đất nằm chính giữa đất nước Việt Nam tính theo đường thiên lý Bắc Nam. Vũ Khắc Tĩnh, Nguyễn Tấn Sĩ, Nguyễn Thị Phương Dung, Nguyễn Đức Dũng, Nguyễn Bá Hòa, Bình Địa Mộc, Phạm Dương Nam, Trần Xuân An là những cây bút đã định hình, có những thành công trên con đường sáng tác thơ văn. Đọc "Xóm trăm năm", người đọc bắt gặp Vũ Khắc Tĩnh với tâm sự của một lãng tử gởi vào hư vô lời sám hối, lòng vẫn vọng về miền cố thổ (LÊ NGỌC TRÁC) 

Xem chi tiết

 Hôm nay, ngày 20/5/2018
Xem chi tiết bản tin

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ VỚI TƯ TƯỞNG VÀ SỨC MẠNH VĂN HIẾN VIỆT NAM

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
VỚI

TƯ TƯỞNG VÀ SỨC MẠNH VĂN HIẾN VIỆT NAM



+ TRẦN KHUÊ


N hân loại chấp nhận tôn giáo vì mọi tôn giáo đều hướng tới sự cứu độ con người. Sự cứu độ là luôn luôn cần thiết đối với những bộ phận của cộng đồng gặp rủi ro, tai nạn hoặc do hoàn cảnh chi phối nên chưa đủ điều kiện và khả năng tự lực giải quyết những vấn đề thuộc quyền sống của bản thân mình. Mọi lý thuyết mang tính chất định mệnh hoặc quyết định luận đều vô bổ và vô nghĩa đối với con người. Mọi nỗ lực của con người từ hàng chục vạn năm nay nhằm khẳng định mình trong cuộc sống, tìm mọi cách vươn tới địa vị làm chủ bản thân, thiên nhiên và xã hội biểu hiện tính năng động, và ý thức hướng thiện: như thế là rất xứng đáng với danh hiệu CON NGƯỜI.

Mọi lực lượng vật chất hoặc tinh thần nhằm làm cho con người mất tin tưởng ở bản thân mình, sống buông trôi trong đời, gặp chăng hay chớ đều đáng phê phán và gạt bỏ. Con người là cao quý hơn mọi sinh vật trên hành tinh, không đáng bị khinh khi, hạ nhục và hoàn toàn có khả năng tự hoàn thiện.

Mọi vĩ nhân từ xưa tới nay đều băn khoăn trước tình trạng thiên nhiên và xã hội chưa xứng đáng với con người, càng nhức nhối khôn nguôi trước tình trạng con người bị áp bức, đày đọa, lăng nhục, sát hại. Và đau xót nhất là khi thấy con người luôn luôn nhầm lẫn, chưa thức nhận đầy đủ rằng: bản thân mình có khả năng tự lập, tự cường, bản thân mình là tự do với điều kiện là đừng nhẫn nhục cam tâm chấp nhận thân phận nô lệ.

Thích-ca-mâu-ni trở nên vĩ đại và được ngưỡng mộ vì Người đã thương yêu con người, muốn cho con người tin rằng dù xuất thân từ đẳng cấp nào - paria hay brahmane - mỗi con người đều có Phật tính nghĩa là con người là bình đẳng tự do và có khả năng tự giải thoát.

Bồ-đề-đạt-ma trở nên vĩ đại và đáng tưởng nhớ vì Người có thiện ý muốn thức tỉnh dân tộc Trung Hoa, thay thế các thứ kinh tạng bằng phương pháp thiền định “trực chỉ nhân tâm” để tự giải thoát mà thành Phật.

Huệ Năng vừa giã gạo vừa ngẫm nghĩ về bản thân và giáo lý nhà Phật, đã tìm ra phép “đốn ngộ” rất thích hợp với quan điểm sống thực tiễn của tộc Bách Việt phương Nam: hãy cứ sống, cứ làm việc, cứ suy ngẫm và chúng sinh hỡi! Các người nhất định sẽ có lúc ngộ đạo và thành Phật.

Và Tuệ Trung đáng kính của chúng ta trở nên vĩ đai vì Người đã mở rộng thêm biên giới nhận thức của con người, đã táo bạo lật ngược một số mệnh đề trong kinh bổn giáo lý nhà Phật cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Với toàn bộ tư tưởng và hoạt động thực tiễn của mình, Người đã khẳng định một quan điểm sống phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của dân tộc ta ở thế kỷ XIII.

+ THIỀN là gì ư? Gốc của THIỀN là gì ư?

- Hãy quay lại nhìn cái gốc của chính mình chứ không thể theo cái gì khác!

(trả lời Trần Nhân tông).

+ Ăn chay để thành Phật ư? - Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật chẳng cần làm anh. Văn Thù cứ Văn Thù, giải thoát cứ giải thoát!

(trả lời Nguyên Thánh Thiên Cảm).

+ Trì giới và nhẫn nhục ư? - Trì giới và nhẫn nhục

Chuốc tội chẳng chuốc phúc

Muốn biết không tội phúc

Đừng trì giới nhẫn nhục.

(Hiểu dụ Trần Nhân Tông).

+ Tọa thiền ư?

Thanh văn tọa thiền, ngã vô tọa,

Bồ tát thuyết pháp, ngã thực thuyết
(Thanh văn ngồi thiền, ta không ngồi Bồ Tát nói pháp, ta nói thực tại)
Đối với ta:

Hành diệc thiền

Tọa diệc thiền

Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên.

(Sinh tử nhàn nhi dĩ) 
(Đi cũng thiền
Ngồi cũng thiền
Trong lò lửa đỏ một bông sen)


Hình ảnh “bông sen trong lửa đỏ” tượng trưng cho cái tâm trong sạch, sáng suốt của Tuệ Trung cũng như của tất cả những ai đạt đạo. Người ta lo đi từ Tâm đến Bát nhã, đến Chân như, đến Phật... Tuệ Trung lo đi từ Tâm đến Thực tại. Suốt đời, Người đã quan tâm đến thực tại của đất nước và dân tộc.

Có thể nói không nhầm lẫn rằng: đối với Tuệ Trung “đi cũng thiền, ngồi cũng thiền” và đánh giặc để cứu dân, cứu nước cũng vẫn là thiền. Đây là truyền thống rất đẹp của dòng thiền Đại Việt phát triển rực rỡ nhất dưới thời Lý-Trần và chảy suốt trong trường kỳ lịch sử của dân tộc cho đến tận hôm nay.

Vua quan, quý tộc, quốc sư, thiền sư và phật tử thời Lý không hề tách rời việc tu tập giáo lý với công việc dựng nước và giữ nước. Phật tử Lý Thường Kiệt trở thành anh hùng dân tộc sau võ công phá Tống bình Chiêm. Hải Lượng đại thiền sư Ngô Thì Nhậm sau vụ án Canh tý (1780) lánh lên tu ở Yên Tử nhưng khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, ông xuống núi đi theo Tây Sơn dẹp thù trong giặc ngoài. Tư tưởng sáng suốt và hành động đúng đắn của ông khiến ông xứng đáng được tôn vinh là đệ tứ tổ thiền phái Trúc Lâm. Có lẽ chỉ riêng Ngô Thì Nhậm và các đệ tử thuộc phái Trúc Lâm mới hiểu rõ phương cách và mục đích tu thiền của đệ nhất tổ Trần Nhân Tông.

“Người ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo là ngài xuất gia, ta biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công; trong nước vô sự, nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được an tâm. Cái ý ấy là không tiện nói ra, sợ người ta dao động cho nên nhắm được ngọn núi Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Quảng Yên, phía Bắc liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng nên ngôi chùa, thường thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngòai xâm phạm. Thật là một vị Vô Lượng Lực Đại Thế Chí Bồ Tát...” (Đặng Văn Sở).

Quan niệm tu thiền như Tuệ Trung và phái Trúc Lâm là luôn luôn gắn bó lợi ích của bản thân mình với lợi ích của cộng đồng dân tộc. Và các ngài đặt lợi ích cộng đồng hơn lợi ích bản thân. Vấn đề giải phóng cộng đồng dân tộc được đặt trước vấn dề giải thoát cá nhân.

Đặc biệt về mặt nhận thức luận, Tuệ Trung chủ trương “vong nhị kiến”. Ngài chống lại lối nhìn chia cắt sự vật, không thấy mối liên hệ nội tại giữa hai mặt đối lập nằm trong một chỉnh thể, chúng vừa mâu thuẫn lại vừa thống nhất với nhau. Có thể nói “Phật Tâm ca” của Tuệ Trung là một bản tuyên ngôn triết lý bao gồm những quan điểm cơ bản về bản thể luận và nhận thức luận. Nhưng điều đáng quan tâm là Tuệ Trung đã đi xa hơn các bậc tiền bối ở điểm đã gắn lý luận với thực tiễn và đề xuất một nhân sinh quan cũng rất thực tiễn, lại phơi phới lạc quan tin tưởng. Ngài bàn về những vấn đề cơ bản, cao sâu của đạo Phật với một tinh thần phê phán có pha chút hài hước:

"Khi Tâm sinh ấy tức Phật sinh Nếu Phật diệt cũng là Tâm diệt Diệt Tâm còn Phật chuyện không đâu Diệt Phật còn Tâm bao thuở hết Muốn biết Tâm-Phật, Tâm diệt sinh Hẵng chờ về sau, Di Lặc quyết."


Di Lặc (Maitroya) tức là Phật vị lai. Theo kinh nhà Phật, hiện này ngài còn đang ngự ở cõi trời Đâu suất (Tusita) và phải 8.108.000 năm nữa mới sinh hạ (nếu tính theo Phật lịch thì cũng còn những 7.107.464 năm nữa ngài mới xuất hiện). Như vậy là cùng với nhiều bài thơ khác, Tuệ Trung muốn nhủ mọi người rằng cứ bàn những chuyện Phật-Tâm, Sinh-Diệt, Sắc-Không, Mê-Ngộ... làm chi cho mệt, đó là những chuyện vớ vẩn không đâu. Hãy lo bàn chuyện trước mắt đây này. Và điều hết sức hệ trọng là hãy lo giữ lấy cái “nếp tổ tông”:

"Nay lại xưa qua luống quẩn quanh

Đâu chỉ chôn vùi nếp tổ tông Còn gọi yêu ma về lộng hành."

Nói theo ngôn từ hiện kim tức là phải giữ vững những truyền thống tốt đẹp của Tổ Tiên Ông Bà, chớ để mai một, chớ có dại dột rước các thứ yêu ma quỷ quái vào làm loạn. Bỏ “nếp tổ tông” để vọng ngoại rồi làm băng hoại bản sắc tốt đẹp của dân tộc là tội rất nặng. Như thể là thông điệp của Tuệ Trung thượng sĩ vượt qua 7 thế kỷ đến với chúng ta trong “thời kỳ mở cửa” vẫn còn nguyên vẹn giá trị. Đó là lời cảnh tỉnh nghiêm khắc. Và ngài không quên cất tiếng kêu gọi và thúc giục mọi người:

"Tỉnh táo lên!

Tỉnh táo lên!

Giẫm đất bốn bề chớ ngả nghiêng

Ấy ai đạt tới niềm tin đó Trên chỏm Tỳ-Lư cất bước lên!"

(Bài ca Tâm-Phật).

(Tỳ-lư = Tỳ-lư-xá-na (Vairocana) - Hán dịch là Đại Nhật. Theo Mật tông, đó là vị Phật đầu tiên).

Trong khi thiên hạ cắm cúi lo chuyện kỷ cương, tôn ti trật tự ở mặt đất, hoặc mải ngước nhìn trời suy tư về sắc không và bàn chuyện luân hồi giải thoát thì Việt Nam mình lo bảo nhau bám chắc lấy thực tại hôm nay, rồi từng bước vững tiến về tương lai. Không ngừng tăng cường tinh thần “học tập đội bạn” nhưng tuyệt đối không sao chép; không rập khuôn. Thuyền mình mình lái, đường mình mình đi. Sao chép, rập khuôn thường dẫn đến sai lầm hoặc thất hại đau đớn. Hai thế kỷ trước Tuệ Trung, thiền sư Quảng Nghiêm đời Lý cũng đã ca vang hành khúc này:

"Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ

Vô sinh sinh hậu thuyết vô sinh

Nam nhi tự hữu xung thiên chí

Hưu hướng Như Lai hành sự hành."

(Thoát ly được lòng ham muốn đi vào Niết Bàn mới có thể bàn tới chuyện đi vào Niết Bàn.

Sau khi sinh vào cõi vô sinh mới nên nói về vô sinh

Làm trai tự mình phải có cái chí tung trời Đừng đi theo bước đi của Như Lai).


Một thế kỷ sau Tuệ Trung có Hồ Quý Ly, người đầu tiên cho in tiền giấy và đưa môn Toán vào các kỳ thi, là người đã viết sách Minh Đạo, trong đó có đoạn chê Trình Chu, Hàn Dũ... là lũ đạo nho chuyên nghề lấy cắp văn chương của người xưa và mắng thẳng mấy vị đại thần mê Tống Nho rằng: biết gì mà cứ mở miệng là nói chuyện Hán, Đường.

Phải công bằng mà đánh giá rằng các thiền sư thời Lý-Trần so với các nho sĩ bị Tống Nho hóa sau này là cao hơn hẳn một cái đầu.

Do đó, cũng không đến nỗi khó khăn quá khi tìm xem hệ tư tưởng nào đã giữ địa vị chủ đạo và khiến cho Đại Việt chiến thắng cả Đại Tống và Đại Nguyên.

Thế nhưng từng có những người ngộ nhận và quy công cho tư tưởng Nho giáo Trung Hoa.

- Hoàn toàn không phải! Chính Khổng giáo Trung Hoa sau khi vay mượn bản thể luận của Phật giáo Ấn Độ để tạo ra hệ tư tưởng Tống Nho hoàn chỉnh đã không cứu nổi Đại Tống. Đánh nhau thì hết thủ hòa với Khiết Đan lại đến thua Tây Hạ, thua Kim, thua Đại Việt và cuối cùng thì bị Mông Thát tiêu diệt và bị thống trị liền 97 năm. Vả lại xét toàn bộ lịch sử Trung Quốc cũng chưa bao giờ thấy Khổng Nho tạo ra cho chính cái dân tộc đã sản sinh ra nó một sức mạnh nào đáng kể.

Gần đây có một số vị nghiên cứu lại quy công cho hệ tư tưởng Phật giáo:

“Tự tin đấy là yếu tố quyết định chiến thắng quân Nguyên xâm lược, mà sức mạnh ấy vốn là sức mạnh của tinh thần Phật giáo”(1)

- Vấn đề này đáng được thảo luận. Theo tôi hiểu, bản thân tư tưởng cũng như tinh thần Phật giáo chưa hề tạo ra ngay cho cái nước sản sinh ra nó là Ấn Độ một sức mạnh đáng kể và trước sức ép của Ấn Độ giáo, Phật giáo đã phải “di tản” sang các quốc gia khác. Tư tưởng Phật giáo cũng chưa hề làm cho quốc gia nào mạnh thêm. Điển hình là Trung Quốc, một nước sùng đạo Phật vào bậc nhất. Cả tư tưởng Khổng giáo và tư tưởng Phật giáo cũng đều không tạo ra một sức mạnh nào đủ để cứu Trung Quốc thoát khỏi bại trận.

- Còn tư tưởng Lão giáo thì khỏi phải bàn nhiều. Vậy thì phải chăng sức mạnh Đại Việt là bắt nguồn từ tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” chăng?

- Thiết tưởng cũng không phải! Vì “Tam giáo đồng nguyên” xuất phát từ Trung Quốc và hai trong ba giáo này là sản phẩm nội địa Trung Quốc. Còn lại phần ngoại nhập thì họ cho giao phối với Lão giáo để lai tạo thành Thiền Trung Hoa thực đáng khâm phục về tinh thần cách mạng.

Rõ ràng nếu Ông Bà ta xưa kia cứ tiếp thu “trọn gói” từng giáo hoặc cả tam giáo làm hệ tư tưởng của mình, hẳn cũng chẳng làm nên công chuyện gì. Thua trận như Trung Hoa là cái chắc. Làm gì lại có chuyện thắng tới ba lần và có vinh dự là người đầu tiên dạy cho hoàng đế và các danh tướng của Đại Nguyên bài học vỡ lòng “Thế nào là đại bại?”.

Vậy hệ tư tưởng nào đã tạo ra sức mạnh Đại Việt thời Trần?

- Không còn nghi ngờ gì nữa, chỉ có thể là một hệ tư tưởng của Đại Việt mà thôi! Nhưng tư tưởng của Đại Việt cụ thể là tư tưởng gì? Bao gồm những thành tố nào?

Lâu nay nhiều nhà nghiên cứu có uy tín vẫn gọi nó là tư tưởng yêu nước.

- Đúng! Nhưng chưa đủ. Vì dân tộc nào lại không biết yêu nước. Riêng Việt Nam thì có thời nào mà dân mình vơi cạn tinh thần nồng nàn yêu nước?. Nhưng kỳ lạ thay! Cũng vẫn Việt Nam giàu tư tưởng và tinh thần yêu nước thế mà khi thì hùng mạnh tuyệt vời, khi lại hèn yếu cùng cực; lúc thì văn minh vượt bậc, lúc lại lạc hậu tột cùng; khi thì ngẩng cao đầu cười ngạo sảng, khi lại cúi mặt khóc ra máu. . .

Sẽ phải nghiên cứu sâu một loạt sự kiện tạo nên các nhân tố cấu thành hệ tư tưởng của Đại Việt trước khi chọn đặt cho nó một cái tên chính xác: tình thương yêu đồng bào, tình làng nghĩa xóm, ý thức kết chạ, tục thờ Mẫu, cuộc hôn phối giữa đạo Phật Ấn Độ với đạo Mẫu Việt Nam trong buổi đầu công nguyên, tinh thần lạc quan yêu đời và nhất là ý chí bất khuất, độc lập tự cường của dân tộc (mà sử Trung Hoa thường gọi là tư tưởng phản loạn, khó cai trị). . .

Các nhà nghiên cứu xưa nay đã chú ý đến cộng đồng làng xã và coi nó là một hằng số văn hóa Việt Nam. Nhưng có lẽ không nên bỏ qua một hằng số văn hóa khác: đó là trí tuệ Việt Nam.

Trí tuệ này nằm trong đầu hàng triệu người nhưng lại tập trung cao ở tầng lớp trí thức dân tộc, ở mỗi thời kết tinh ở các bậc nam nữ anh hùng hào kiệt và có một hệ số vô cùng quan trọng là bộ phận được trao quyền quản lý quốc gia - xã hội. Cái hệ số này là một biến số có biên độ dao động rất rộng, có thể cực kỳ cao thượng thông tuệ, cũng có thể là cực kỳ ngu xuẩn, sa đọa.

May mắn thay ở thế kỷ XIII, dân tộc ta đã có những cái đầu thông tuệ biết hấp thụ những tinh hoa của Tam giáo, nhất là tinh hoa của Phật giáo Ấn Độ và Thiền Trung Hoa để bổ sung cho tinh hoa dân tộc, biết tổ chức một xã hội theo pháp độ kỷ cương riêng của mình, tạo mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử: Kỷ nguyên Đại Việt.

Kỷ nguyên Đại Việt là do lực lượng văn hiến Đại Việt, tư tưởng văn hiến Đại Việt và sức mạnh văn hiến Đại Việt tổ hợp thành.

Tuệ Trung thượng sĩ và Thiền phái Trúc Lâm đã góp phần xứng đáng của mình trong việc xây dựng lực lượng văn hiến và tư tưởng văn hiến tạo ra một sức mạnh văn hiến kỳ diệu hiếm có trong lịch sử nhân loại.

Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung không chỉ là một nhà thiền học, một nhà thơ, một dũng tướng, mà còn là một triết gia, một nhà tư tưởng của Việt Nam ta.

Tuệ Trung thượng sĩ chính là một đỉnh cao của tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XIII. Đó không phải chỉ là niềm tự hào riêng của Thiền tông Việt Nam và các phật tử Việt Nam, đó là niềm tự hào chung của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Nghiên cứu về Tuệ Trung, chúng ta hy vọng góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa tư tưởng của nhân loại. Khảo cứu về Tuệ Trung thượng sĩ, ta có thể rút ra được một định lý sống đẹp có khả năng dùng làm chuẩn mực cho mọi người tham khảo:

“Sống và hành động hết mình, tùy duyên theo lẽ trời, tùy tục theo lẽ người, vì lợi ích của bản thân và của cộng đồng dân tộc”.

Tôi gọi đó là: ĐỊNH LÝ TUỆ TRUNG.

TRẦN KHUÊ
Tháng 8-1992.
(Bản tham luận tại Hội thảo khoa học “Tuệ Trung thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam” do Trung tâm NC Hán Nôm tổ chức tại TPHCM năm 1993).



Chú thích:
(1)Thích Phước Sơn - Nhân khái quát Phật giáo đời Trần. Tạp chí Văn học tháng 4-1992 (tr. 26)

(2) Thế nào là Thượng Sĩ?

-Tu Thiền chỉ mới mang lại lợi ích cho riêng bản thân thì đạt cấp Hạ sĩ. Quên lợi ích bản thân để lo cứu độ chúng sinh thì đạt cấp Trung sĩ. Vừa mang lại lợi ích cho bản thân vừa cứu độ được chúng sinh thì đạt cấp Thượng sĩ.

(3) Đất nước văn hiến là đất nước tươi đẹp và có nhiều hiền tài.

Quay lại In bản tin n�y Gửi tin n�y cho bạn b�  
 
 
 C�C TIN TỨC KH�C
Giáo sư Phan Đình Diệu là kẻ sĩ chân chính, cương trực (16/05)
TẠI SAO TRIỀU ĐẠI MINH MỆNH CÓ NHIỀU CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA NÔNG DÂN ?! (28/04)
VỊ THẾ NỔI BẬT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆT NAM (19/04)
VUA GIA LONG CHỌN NGƯỜI KẾ NGHIỆP (07/04)
MINH MỆNH CHỌN NƠI YÊN NGHỈ VĨNH HẰNG (28/03)
Nguyễn Khắc Viện: Một người uyên bác và thẳng thắn (22/03)
Lê Huy Miến: Người đi trước thời đại (08/03)
Năm vị tiến sĩ nho học người Quảng Ngãi (19/02)
Ý NHỎ VỀ GIAI THOẠI VUA MINH MỆNH (14/02)
Thiền Sư Vạn Hạnh và sứ mệnh lịch sử (05/02)
Những nhà văn - "viện sĩ" (01/02)
Đại thi hào Nguyễn Du được an táng lần đầu tại đâu? (24/01)
Ý NHỎ VỀ GIAI THOẠI VUA MINH MỆNH (05/01)
THƠ CHỮ HÁN CỦA VUA MINH MỆNH (21/12)
MINH MỆNH CHỌN NƠI YÊN NGHỈ VĨNH HẰNG (15/12)

 

Xem tin:


 Website Lengoctrac.com

á
Lên đầu trang

 Bản quyền © 2011 thuôc về Lengoctrac.com  - Email: lengoctraclg@gmail.com
Bo dem